
Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện xếp hạng 64/160 quốc gia về phát triển logistics và đứng thứ 4 trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành logistics Việt Nam là 14-16%, với quy mô 40-42 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với nhiều thách thức về đồng bộ hóa hệ thống cảng, sân bay và đường bộ; doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ; và sức cạnh tranh yếu trong thị trường dịch vụ quốc tế và nội địa.
Trong khuôn khổ Diễn đàn và triển lãm kinh tế xanh tại Việt Nam diễn ra từ 21-23/10/2024, Giáo sư tiến sĩ Arne Heinold đến từ Kühne Logistics University (KLU), ngôi trường danh tiếng hàng đầu trong lĩnh vực logistics và quản lý chuỗi cung ứng, đã tham gia các phiên thảo luận thảo luận và chia sẻ về phát triển bền vững thông qua xây dựng logistics bền vững cũng như vai trò của KLU trong việc đồng hành cùng Việt Nam và khu vực về vấn đề này.
Ông nhận định thế nào về tiềm năng và thách thức của ngành logistics Việt Nam? Những giải pháp quan trọng nào Việt Nam cần thực hiện đạt được mục tiêu giảm chi phí logistics, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh của ngành logistics trên thị trường quốc tế?
Giáo sư tiến sĩ Arne Heinold:Đây là một câu hỏi rất phù hợp ở thời điểm hiện nay khi mà ngành vận tải có thể tác động tới 20% lên thương mại quốc tế (Theo một số nghiên cứu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Một điều rõ ràng là nếu chúng ta chỉ áp dụng các giải pháp từ các quốc gia phát triển như những giải pháp sẵn có ở Đức, chúng sẽ không phù hợp với Việt Nam vì chúng sẽ không mang lại kết quả chuyển đổi kinh tế “xanh” như mong đợi.
Bởi vì thách thức đối với Việt Nam là việc thu hẹp khoảng cách hạ tầng hoặc đơn giản hóa các quy định, nhưng tôi cũng rất tin tưởng rằng những thách thức này là cơ hội lớn. Thay vì sao chép các giải pháp từ các nước phát triển, Việt Nam có thể đưa ra các giải pháp sáng tạo mới, để tránh những bẫy mà các nước phát triển đang vướng phải. Việc thay đổi một hệ thống hiện tại khó khăn hơn nhiều so với việc tạo ra một hệ thống mới từ đầu. Đây là một cơ hội lớn để Việt Nam thực sự vượt trội về mặt “xanh hóa”.
Một điểm khác tôi muốn nhấn mạnh là việc kết nối các chủ đề với nhau là rất quan trọng. Chúng ta nói rất nhiều về tính bền vững, đặc biệt là trong hội nghị này. Nhưng khi nhìn vào ngành logistics và chuỗi cung ứng, chúng ta thấy nhiều thay đổi. Thương mại điện tử đang gia tăng, điều này cũng sẽ làm tăng lượng vận tải. Chúng ta cũng thấy sự số hóa với trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (machine learning) sẽ có tác động lớn đến ngành, điều này cũng tác động và giúp sự bền vững đang dần phát triển hơn. Tại KLU, chúng tôi dạy rằng chúng ta cần kết nối các yếu tố này với nhau và giải quyết chúng một cách toàn diện như một vấn đề lớn.
Trong ngành logistics và chuỗi cung ứng có nhiều phần riêng lẻ và rất nhiều thay đổi đang diễn ra. Chính vì thế, chúng ta cần tiếp cận vấn đề một cách tổng thể.
Ôngnghĩ gì về việc thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng không (net zero) tại Việt Nam, khi việc áp dụng các công nghệ xanh có thể rất tốn kém, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận trong khi vẫn duy trì được mức phát thải ròng bằng không để đạt kết quả kinh tế tốiưu.
Hiện nay, ở Liên minh châu Âu, chúng tôi đã quyết định áp dụng thuế carbon. Vì vậy, đối với mỗi tấn khí thải được phát ra, các công ty phải trả phí. Ở Hoa Kỳ, họ sử dụng trợ cấp. Họ có Đạo luật Giảm Lạm phát (Inflation Reduction Act), về cơ bản cung cấp rất nhiều tiền cho các công ty nếu họ đầu tư vào công nghệ xanh. Đây là hai cách tiếp cận khác nhau.
Rất khó để nói hiện tại cách tiếp cận nào sẽ tốt hơn và chúng tôi sẽ lựa chọn phương pháp nào để áp dụng, bởi điều này sẽ tác động đáng kể đến cách các công ty hoạt động. Về điều này chúng tôi sẽ nghiên cứu trong tương lai và chứng minh xem phương pháp nào chứng minh hiệu quả hơn. Cũng có thể áp dụng cả hai sẽ thành công.
KLU có chương trình mà tôi đã đề cập trước đó, và tất cả các chương trình của chúng tôi đều tập trung vào các chủ đề về tính bền vững. Chúng tôi nỗ lực tích hợp tính bền vững vào các khóa học thường xuyên, các lớp học chuyên sâu như logistics xanh và quản lý chuỗi cung ứng bền vững. Các lớp học này tập trung vào việc các công ty có thể thay đổi, hoặc cần phải thay đổi như thế nào để đạt được các mục tiêu phát thải ròng bằng không đồng thời tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm thiểu tác động môi trường.